Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

15 năm quyết nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về Văn hóa: Hành trang văn hóa phát triển trong thời kỳ mới


Chuẩn bị vào hội Tịch điền (Đọi Sơn)

Ảnh:Hồng Vĩnh


Quyết nghị Trung ương 5 khóa VIII ra đời trong điều kiện sự nghiệp đổi mới đang mở ra giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt trong lịch sử dựng nước. Sự hội nhập ngày càng sâu rộng là cánh cửa để chúng ta tiếp cận với những trào lưu mới tiến bộ của thế giới. Một trong những trào lưu ấy chính là sự khởi động thập kỷ phát triển văn hóa của UNESCO được chủ xướng vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhằm đề cao vai trò của văn hóa trong phát triển. Chính thập kỷ đó là thập kỷ Việt Nam đang chuẩn bị và bắt đầu thời kỳ đổi mới. Thu nhận tư tưởng tiến bộ của nhân loại, dựa trên nền móng thực tiễn đời sống tầng lớp Việt Nam và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa đã ra đời và đích thực đi vào đời sống xã hội suốt những năm đổi mới tổ quốc.


Đánh giá khách quan, toàn diện những thành quả đạt được và những hạn chế yếu kém về văn hóa sau 15 năm triển khai Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII là việc làm cần thiết và công phu của các cấp ủy Đảng, các cơ quan văn hóa từ Trung ương đến địa phương. Điều quan yếu nhất là phải quán triệt ý thức khách quan, nhìn thẳng vào sự thực, không tô hồng nhưng cũng không phủ nhận cảm tính xuất hành từ những bức xúc, bất cập của nhiều hiện tượng tầng lớp đang hàng ngày diễn ra. Nếu chỉ cứ vào những bất cập trong quản lý di sản văn hóa; những suy thoái về đạo đức, lối sống trong cộng đồng có cả cán bộ và đảng viên; sự phai nhạt truyền thống "tình làng, nghĩa xóm” ở phương diện nào đó; sự hoành hành tuy chỉ tạm bợ của cái ác …để trông coi văn hóa đang đi xuống cũng là nhận định phiến diện, thiếu khách quan. Nhưng nếu dòm văn hóa đang phát triển mạnh mẽ căn cứ vào những lễ hội hoành tráng thường xuyên được tổ chức, việc thụ hưởng văn hóa bằng các chỉ số có tính hình thức qua việc được nghe đài, đọc báo, xem phim, hoặc ưng chuẩn số nhà văn hóa đã và đang xây dựng, số làng văn hóa, gia đình văn hóa được công nhận năm sau nhiều hơn năm trước… thì cũng là cách đánh giá "cổ truyền” ít có giá trị thiết thực cho phát triển. Có nhẽ phải coi xét khách quan từ những mục tiêu chiến lược của Nghị quyết.


Trước hết về con người với nhân cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm của văn hóa. Con người Việt Nam sau đổi mới thực thụ đã phát triển khá toàn diện. Toàn diện trong nhận thức, tư duy, trong hành động, trong xử sự từng lớp, xử sự với môi trường thiên nhiên, tầng lớp, xử sự với chính bản thân mình. Trước hết hãy nói về số đông, đó là những người dân cày Việt Nam ngày nay không còn lạc hậu như trước, văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, văn hóa cần lao sản xuất…đã tiến những bước dài. Cũng trên diện tích như vậy, thậm chí còn bị thu hẹp hơn, dân cày Việt Nam đã tạo ra lượng lương thực, thực phẩm gấp nhiều lần trước đây do có nhận thức cao hơn, có trình độ cao hơn và khẳng định mình mạnh mẽ hơn. Văn hóa ăn, mặc, ở, văn hóa thể chất, sức khỏe của dân cày cũng tiến bộ hơn trước nhiều. Về văn hóa cộng đồng, chính người nông dân là lực lượng quyết định việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, là những người có công lớn nhất bảo vệ, trùng tu đình, chùa, đền, miếu, hội hè … nơi thôn dã.


Những di sản văn hóa như Quan họ, Hát Xoan, Ca Trù, Hội Gióng…không có những người dân cày với niềm tự hào về truyền thống, với sự nhận thức đúng đắn về giá trị văn hóa liệu những giá trị quý đó có được UNESCO công nhận?. Người dân cày Việt Nam hiện tại tiến xa hơn xưa rất nhiều nhìn từ góc độ văn hóa. Hãy tạo môi trường mới xứng đáng với công lao và sự tiến bộ của nông dân, họ có thể làm những điều kỳ diệu hơn cả điều kỳ diệu mà thế giới thừa nhận về xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. Về tuổi trẻ Việt Nam bữa nay cũng có thể nói đã tiến xa hơn nhiều so với đời trước. Đó là những thanh thiếu niên được đào tạo cơ bản, có trình độ học thức, có nhận thức sâu rộng về bản thân, cộng đồng và thế giới, tự tín và có thèm khát khẳng định mình trong sự thích ứng với điều kiện xã hội phát triển. Một chỉ số vững chắc không thể chối cãi đó là tuổi xanh hiện tại có trình độ ngoại ngữ vượt xa đời trước cả về số lượng và chất lượng. Đời trung niên và những người cao tuổi là lực lượng cốt tử đã và đang thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Những người này cũng có trình độ cao hơn, nhận thức và ý chí cao trong việc đưa giang san thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Hãy so sánh kết quả hôm nay so với quá khứ của chúng ta để thấy sự vươn lên của chính mình. Nhìn nhận một cách bình tĩnh sẽ thấy con người Việt Nam sau đổi mới về cơ bản vẫn là những con người văn hóa truyền thống, song song đã tiếp thụ nguyên tố hiện đại, văn minh, hội nhập sâu rộng hơn với cộng đồng quốc tế.


Tuy nhiên, chẳng thể không cảnh báo về sự suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cộng đồng người Việt Nam, đặc biệt là những cán bộ, đảng viên làm cho bức tranh đời sống từng lớp có nhiều vết ố phản cảm và hiểm. Thói hám tiền, ích kỷ, bè phái, vọng ngoại, hèn đớn, ác độc …có chiều hướng biểu đạt ngày càng trắng trợn và phổ biến. Chém giết lẫn nhau giữa vợ chồng, cha con, ý trung nhân, người nhà, người làng…diễn ra khắp nơi bộc lộ văn hóa đạo đức suy đồi, tính thiện suy vi, tính ác nổi trội. Văn hóa xử sự với môi trường tự nhiên cũng đáng báo động. Môi trường thiên nhiên cho phát triển bền vững, môi trường thiên nhiên cho sức khỏe cộng đồng thật sự đáng lo ngại. Tuổi xanh là thành viên hăng hái cho văn hóa môi trường, nhưng cũng còn nhiều người không chịu học hành, cần lao, chỉ đua đòi, quấy phá, nghiện hút, mãi dâm, dẫn đến cướp của, giết người tàn bạo…là tiếng chuông cảnh báo về duyên do giảm chỉ số phát triển con người và tầng lớp Việt Nam nói chung, cũng như đời sống an bình của từng cộng đồng nói riêng.


Nói tới văn hóa chẳng thể không nói tới di sản văn hóa, kết tinh vật chất và tinh thần của dân tộc suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Về việc này phải thấy sau khi có Nghị quyết nhận thức chung của Đảng, Nhà nước và cả cộng đồng có những chuyển biến rất rõ nét. Nếu ngày trước những di sản văn hóa vật thể như đình, chùa, đền, miếu…rất ít được quan tâm, thậm chí có nơi còn tàn phá, thì hiện tại hầu khắp các địa phương trong toàn quốc đã có chương trình kiểm kê, đánh giá, xếp hạng và từng bước chống xuống cấp, bảo vệ và phát huy có hiệu quả. Điều đó khẳng định sự chuyển biến nhận thức về di sản văn hóa vật thể sâu rộng trong cộng đồng. Về di sản văn hóa phi vật thể thì sự chuyển biến về nhận thức còn sâu sắc hơn. Nếu trước đây nhiều giá trị di sản văn hóa phi vật thể không những không được nom đúng đắn mà còn bị miệt thị, coi thường. Ca Trù, Hát Xẩm không phải khi nào cũng được tôn trọng! Nhiều di sản tuy không bị miệt thị nhưng cũng chìm trong lãng quên vì nhiều lý do. Đến như bia trong Văn Miếu cũng bị bỏ quên, thất lạc; Hát Xoan, Quan Họ, hội Gióng, trường ca các dân tộc Tây Nguyên, rồi cồng chiêng, nhã nhạc…có mấy ai quan hoài?!


Ngày nay các bộ sưu tập được ghi chép, in ấn, xuất bản thành sách, ghi băng, làm đĩa hình, đĩa tiếng…rồi nghiên cứu đệ trình UNESCO công nhận nhiều di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam nức danh thế giới. Công bằng mà nói những việc làm được về di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể là rất đáng ghi nhận trong 15 năm qua. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện một việc đã bị quên lãng nhiều năm không tránh khỏi những bất cập đáng tiếc như chuyện biến Thành nhà Mạc, Ô Quan Chưởng thành di sản "một năm tuổi”, rồi phá dỡ chùa Trăm Gian không coi trọng Luật Di sản…rồi các di sản ngày một xuống cấp không kịp trùng tu, hoặc các di sản được công nhận chưa phát huy được trong đời sống kinh tế - tầng lớp…Ngay cả những tiếng kêu cứu trên báo chí về di sản cũng phản ảnh rõ nét nhận thức về việc bảo vệ di sản đã được thấm sâu vào cộng đồng như thế nào. Đòi hỏi phải làm tốt hơn nữa việc gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc là yêu cầu thực tế khách quan, nhưng nó không đồng nghĩa với việc phủ nhận thành tựu to lớn về lĩnh vực này trong những năm qua.


Về hoạt động văn hóa và đời sống văn hóa cộng đồng cũng có những thành quả rất đáng ghi nhận. Về số lượng các hoạt động văn hóa, đặc biệt là lễ hội tăng đáng kể, góp phần làm phong phú thêm đời sống cộng đồng, nhất là ở nông thôn. Tuy nhiên, về chất lượng và ý nghĩa tổ chức các lễ hội và các hoạt động văn hóa khác cũng còn nhiều hạn chế. Các hoạt động thẳng tắp như chăng đèn, kết hoa, treo cờ phướn, băng rôn, khẩu hiệu có phần ranh hơn, nghệ thuật cao hơn và cũng có nhiều hình thức đẹp phố, vui làng hơn. Tuy nhiên, việc lặp đi, lặp lại nhiều lần trong năm không nâng cao đời sống thẩm mĩ cộng đồng, nhiều khi còn gây phản cảm về sự lãng phí. Nhiều nơi ngay tại Thủ đô "chúc hạ năm mới” đến giữa năm vẫn còn tươi màu trên bảng hiệu. Hoạt động dịch vụ văn hóa phát triển khá mạnh đáp ứng nhu cầu của một bộ phận trong cộng đồng. Tuy nhiên, do quản lý chưa đáp ứng sự phát triển nên nhiều hệ lụy tồn tại chưa thể giải quyết gây bức xúc tầng lớp như dịch vụ Karaoke, vũ trường. Vấn đề trình diễn cũng còn nhiều việc phải làm sao cho đáp ứng nhu cầu văn hóa và định hướng thẩm mỹ đúng đắn cho giới trẻ. Vấn đề công bằng trong hưởng thụ văn hóa cũng còn không ít việc phải làm.


Về hoạt động văn hóa có điểm nhấn rất đáng ghi nhận là hoạt động giao lưu, truyền bá, giới thiệu văn hóa Việt Nam với cộng đồng quốc tế và văn hóa thế giới với Việt Nam. Có thể nói nhờ các hoạt động này thế giới hiểu hơn, yêu mến và trân trọng Việt Nam hơn, và Việt Nam cũng hiểu và gần gũi với cộng đồng quốc tế hơn. Tuy nhiên, về phim ảnh một số nước chiếm lĩnh màn ảnh nhỏ và rạp chiếu phim cả về số lượng và tầm ảnh hưởng đến sở thích, cũng như lề thói xem phim của người Việt Nam đã đến mức báo động. Những yếu tố văn hóa hăng hái và bị động duyệt hệ thống mạng cần được quan hoài, điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình mới.

Nói tóm lại, sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII - những thành quả đạt được trong lĩnh vực văn hóa là rất đáng ghi nhận, nhưng những hạn chế, tồn tại và những thụ động phát sinh trong điều kiện mới cũng cần nhận diện kỹ lưỡng để biết rõ hành trang văn hóa phát triển trong điều kiện mới của dân tộc. Nghị quyết nào cũng chỉ phù hợp trong một tuổi phát triển nhất thiết. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII không phải là ngoại lệ sau khi đã hoàn tất sứ mạng của mình.


Hiện tại người ta quan niệm văn hóa là hình ảnh, là khuân mặt của mỗi nhà nước. Trong thế giới hội nhập, chúng ta cần có nhận thức mới, tư duy mới và hành động đúng đắn nhằm giữ gìn văn hóa Việt Nam truyền thống, thu nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học và đại chúng, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa nhân loại, đồng thời xây dựng hình ảnh Việt Nam phát triển, thân thiện và đáng tin tưởng trong cộng đồng quốc tế.

TS. Nguyễn Viết Chức